Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Khoe mông hé đùi chào mời Lý Thái Tổ.

Vua Lý Thái Tổ Đăng đàn

Bức hình trên đây một là Lý Thái Tổ đăng đàn, một là đám cún cởn đang khoe mông hé đùi chào mời Lý Thái Tổ. ( Viết theo tâm trạng của một bạn đọc Dân làm báo )
Không biết là Vua Lý Thái Tổ đứng ngắm cảnh này sẽ nghĩ sao? Trong lúc quốc phá gia vong, ông bênh biểu tình chống đám cún cởn hay ông chống đám biểu tình bênh vực các cháu đem niềm tươi mát đến cho ông? Ông đứng đó ngàn năm…giá như lúc này ông ọc máu tươi ra và đổ sụm bà chè xuống thì nào ai biết ông nghĩ, đang tức cái gì nên nỗi? Vậy thì 85 triệu con cháu ông, có ai nhận ra tâm trạng ông lúc đó như thế nào không?

Một ngày trước biểu tình, chính quyền cộng sản âm thầm thực hiện mưu tính dàn dựng sân khấu trước tượng đài Lý Thái Tổ, nếu dùng từ theo cộng sản thì “Phản Cảm” chính là đây. Nếu cộng sản là người yêu nước yêu dân thực sự, sẽ không bắt dân biểu tình mà trái lại, buổi văn nghệ phải là buổi ca nhạc đấu tranh cổ vũ phong trào yêu nước, Lý Thái Tổ có lẽ ông rất hài lòng…Tiếc thay, ông phải chứng kiến cảnh bạo ngược một đứa con đã cướp hết tài sản, thông đồng với giặc lại dở trò phao phản, nhìn ông đứng sừng sững mắt hướng về sân khấu, nơi đó, ca hát quay cuồng chính là để che đậy thói bất nhân và khỏa lấp vụng trộm đi đêm với giặc, một sự sỉ nhục trước mắt ông như sự tích ông địa bị một con điếm chửa hoang cùng đường vô thế, phao cho ông làm bụng mang dạ chửa, ông chỉ còn cách ngồi thừ ra đó dở khóc dở cười…Tội nghiệp cho Vua Lý Thái Tổ giờ đây chỉ là một bức tượng bằng đất dưới con mắt của cộng sản, cho nên chúng bày ra cái trò sỉ nhục ông, điếm nhục cả một dân tộc dòng dõi rồng tiên bao đời. Đây chính là di sản tên Hồ chí Minh để lại, chính Hồ Chí Minh đã khai tử tiền nhân một lần nữa, bằng cách nhồi sọ buộc người dân phải hiểu chỉ có bác và đảng mới làm nên lịch sử, phủ nhận công lao của tiền nhân, xem người có công dựng nước xuống hàng thứ yếu, thì đối với dân đen hiện giờ có sá gì, hồn thiêng sông núi nhắc tới làm gì đối với kẻ không có trái tim.

Video được quay những người bị bắt trên xe, ta chỉ nghe một câu đầy câm phẩn chế độ phát ra từ chị Minh Hằng: Đả đảo Trung Quốc xâm lược – Đả đảo quân bán nước! Tiếng thét của anh chị em yêu nước như xé toang bầu trời âm u của ngày biểu tình, nhận diện rõ mặt từng con chó săn nhơ nhớp. Giờ phút này là giờ phút người dân yêu nước thực sự đối đầu với giặc nội thù đã công khai xuất đầu lộ diện, anh chị em tiên phong đại diện cho 85 triệu đồng bào hãy bình tĩnh nhận diện kẻ thù đang đến ngõ cụt, trị dân bằng lọc lừa dối trá không còn biện minh được nữa thì cái giá phải nạp mình cho dân trị, sớm hay muộn giang sang này đặt hết niềm tinh vào các bạn.

Thái độ và tâm trạng của chính con người VN yêu nước chính là tâm trạng của tiền nhân ! Vua Lý Thái Tổ vẫn đang đứng chờ các bạn lên đường..Hồn thiêng sông núi nhất định sẽ không để chúng yên./.

Hoàng Hạc Quan

Thích Trí Quang, một thiếu phụ hai chồng

Thông thường từ cuộc chiến đấu chống cộng trước 1975 đến hiện nay, hễ ai có biểu hiện thân cộng, hoặc đối lập với chính quyền Miền Nam, người ta nghĩ ngay người đó là Cộng Sản, không những người đời gán cho hai chữ Cộng Sản, mà chính bản thân người thân cộng, hoặc đối lập cũng lầm tưởng chính mình cộng Sản! Đọc trong tác phẩm Trại Kiên Giam của tác giả Nguyễn Chí Thiệp, Continue reading →

- Chưa xác định “tàu lạ’ đâm tàu ngư dân  —  (BBC).
- Phim “Hoàng Sa, nỗi đau mất mát” của André Menras- Hồ Cương Quyết (Trương Duy Nhất). “Việc cấm đoán vô lối này đã dấy lên làn sóng phản đối trong dư luận. Nguyên nhân không cho trình chiếu theo bài viết của tác giả Đỗ Trung Quân đăng trên blog Quê Choa là do ‘không có yếu tố đảng trong phim‘.” – Mời bà con xem video, có nhiều đoạn ông André Menras – Hồ Cương Quyết phỏng vấn người dân miền Trung bằng tiếng Việt, rất cảm động: Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát – La Meurtrissure (Nguyen304/ Youtube).
<= 1970 Miền Nam VN – Sinh Viên học sinh tự do biểu tình đòi hỏi Chính Quyền phải tôn phải tôn trọng tự do nhân quyền theo Hiến Pháp. BTV: Chế độ “ngụy”, “thối nát” VNCH vậy mà cho sinh viên xuống đường biểu tình, còn chế độ XHCN ta tốt đẹp, chẳng lẽ chịu thua bọn “Mỹ – ngụy” sao? – “Điều gì đến phải đến”  – (DLB). “Màu sắc quân phục, ý thức hệ chính trị có thể khác nhau nhưng Tổ Quốc chỉ có một. Năm 1988 hải quân miền Bắc cũng hy sinh chống trả quân TQ xâm lược Trường Sa – Sao hai bên đều hy sinh bởi cùng một lằn đạn của duy nhất từ một kẻ thù lại phân biệt trong cách vinh danh? Các anh – Những chiến sĩ Hải Quân quả cảm QL/VNCH nằm xuống lấy máu xương bảo vệ biển đảo bờ cõi của tổ quốc Việt Nam nếu không phải ‘hy sinh đền nợ nước’ thì hy sinh cho ai?”
- Trần Trung Đạo: Từ những chuyển biến chính trị ở Á châu cuối năm 2011 nhận xét về động thái chính trị của Đảng Cộng sản VN hiện nay (RFA’s blog).
- Giới quân đội Trung Quốc chỉ trích việc nâng cấp mối quan hệ phòng thủ Mỹ – Úc: China military denounces US-Australia defense upgrade (Reuters). – Trung Quốc chỉ trích các kế hoạch quân sự của Mỹ ở Úc: China Criticizes US Military Plans in Australia‎ (WSJ).
- Quyền lực cá nhân : Bạn, Tôi và Trung Quốc  – (Thùy Linh).
- Lo ngại về việc CA bắt giữ trái phép chị Bùi Thị Minh Hằng – (DLB).
- Cáo buộc mới liên quan vụ tiền polymer  —  (BBC).

Sự khó xử của nhà cầm quyền



Tin nóng: CA đã thả người yêu nước

Một chiến thắng cho nhân dân Việt Nam


Vũ Nhật Khuê (danlambao) - Chiều 25.8.2011 công an Hà Nội phải thả những người yêu nước dưới nhiều sức ép. Những người con ưu tú của đất nước trở về trong niềm vui ngất ngây. Khi các anh chị Phương Bích, Minh Hằng, Anh Dũng, Tiến Nam... bước vào nhà tù vì tội yêu nước thì ngay cả gỗ đá cũng phải ngỡ ngàng. Nhưng từ trong lao tù họ bước ra với niềm kiêu hãnh đánh thức cả dân tộc. Một chiến thắng trên cả tuyệt vời cho những con yêu nước cũng là một chiến thắng đẹp cho cả đất nước, nhất là ở thời điểm chính phủ độc tài của Lybia bị hạ bệ thì niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc lại bùng lên.


Hãy tỉnh lại


Nguyễn Việt (An Ninh Thủ Đô) - Gần đây, các blog đóng vai trò kêu gọi tụ tập vào chủ nhật hàng tuần để mượn chiêu bài chống Trung Quốc âm mưu xâm lược các vùng biển Việt Nam nhưng mục đích chính là gây rối trật tự công cộng, thí điểm mô hình biểu tình chống Nhà nước.


Tôi đi biểu tình


(Kính xin vong linh tác giả “Tôi Đi Học” thứ tội cho - NBC)

Nguyễn Bá Chổi (danlambao) - Hàng tuần, cứ vào sáng Chúa Nhật, kể từ ngày 5 tháng 6 năm 2011, bất chấp công an và bọn phản động nối giáo cho giặc bố trí đầy đường và không có nơi nào thiếu vắng rào cản, bảng cấm, xe búyt trương bảng “Xe về ga-ra không chở khách” chực sẵn để chở “tù” biểu tình, và những cặp mắt cú vọ, những cái mồm phùng mang nhí nhố xeo-phôn, lòng tôi lại nao nức đi biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng đất nước tôi.


Những nẻo đường Việt Nam


Phạm Minh Tâm (danlambao) - “Những nẻo đuờng Việt Nam suốt từ Cà mâu thẳng tới Nam quan…” mà giờ đây nghe như bị nghẹn vì đuờng đến Nam quan đã tắc nghẽn. Và từ trong nỗi ngậm ngùi này thì chắc chắn chúng ta cần nghĩ đến nhiệm vụ phải nối thẳng lại cái chiều dài từ ải Nam quan đên mũi Cà mâu bằng chính chúng ta. Lời ca Diên hồng đã vang lên “Toàn dân nghe chăng …sơn hà nguy biến…” Đấy là lời vọng nước non và đã có những người nghe được, nhìn ra đuợc; là những người đang mạnh dạn cất lên tiếng nói vừa hùng tráng, vừa bi thương “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”.


Đạo quân thất trận


Tưởng Năng Tiến - Từ giờ phút này trở đi các em nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền giáo dục của một nước độc lập. - Hồ Chí Minh (3 tháng 9 năm 1945). Khi Hồ Chủ Tịch tuyên bố như trên, vào ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (chắc chắn) không ai có thể hình dung ra được là “nền giáo dục của một nước độc lập” nó mắc (tới) cỡ nào? 


VOA: 3 người biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội vừa được thả


"Họ giam giữ chúng tôi 1 đêm ở công an quận Hoàn Kiếm. Chúng tôi cực lực phản đối những hành vi của họ, bắt giữ trái pháp luật, đàn áp những người yêu nước. Ở đó, họ đối xử với chúng tôi không khác gì một sào huyệt mafia. Riêng đối với tôi, họ không lấy được khẩu cung vì tôi khai một điều duy nhất là "Tôi yêu tổ quốc, nếu cần tôi chết..." - Bùi Minh Hằng


Viết cho ngày sinh nhật DLB


Khoa Văn (bạn đọc Danlambao) - Tôi là một độc giả ở California (Cali), cũng mới vào Dân Làm Báo (DLB) một hai tháng nay. Tôi thường vào www.Saigonbao.com trước sau đó vào các trang tin trong ngoài nước. Từ trang tin nầy, cửa vào tất cả website rất phong phú. Vào các báo trong nước có chậm vài giây nhưng tất cả đều suông sẻ. Tôi vẫn thích đọc tin trong nước để cảm thấy mình gần gủi, để hít thở bầu không khí mà đồng bào mình đang thở.


Chiến hạm Mỹ âm thầm tới Cam Ranh

Lần đầu tiên từ năm 1975

CAM RANH (NV) - Một tàu tiếp liệu đạn dược và đồ khô của Hạm Ðội 7 tại Thái Bình Dương đã rời cảng Cam Ranh ngày 23 tháng 8, 2011 sau một tuần lễ bảo trì định kỳ.


Thông tin về các thanh niên Công giáo bị bắt cóc

VNRs (24.08.2011) –  Bản tin từ thành phố Vinh sau đây khẳng định việc bắt cóc các thanh niên Công giáo của bộ công an từ ngày 30/7/2011 đến nay là xác thực. Trước khi chờ xem kết quả điều tra của cái xã hội đầy dẫy bất công này, cần phải lên tiếng phản đối kiểu bắt người trái pháp luật của bộ công an.


Yêu nước phải xin nhà nước?


Hoa Sương Tuyết (danlambao) - Chính họ - những người yêu nước chân chính - đã châm ngòi nổ cho khối mẫu thuẫn bấy lâu nay tồn tại trong xã hội; chính họ đã chỉ rõ cho nhân dân thấy rằng: nhân dân có quyền được thể hiện lòng yêu nước trên chính mảnh đất mà họ đã đổ xương máu giành lấy. Yêu nước không phải xin nhà nước...


TKV, bauxite và câu chuyện lợi ích quốc gia


Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) mới đây đã có văn bản gửi Tổng cục Đường bộ Việt Nam. Văn bản này nhấn mạnh rằng nếu phải chi cả nghìn tỷ đồng làm đường vận chuyển cho dự án khai thác bauxite Lâm Đồng, thì hiệu quả kinh tế của dự án này không còn.


Tổ Quốc không có đuôi


Sỹ Nhàn (danlambao)


Tổ Quốc mấy ngàn năm
Người trẻ lại bao giờ
Mà cha già dân tộc
Tuổi mới chớm trăm hai?


Y phục Trung Quốc và vua Quang Trung


Vũ Thị Phương Anh - Trước hết, hãy nói về y phục TQ. Thực ra, tựa đầu của entry này tôi đã đặt là “Cảnh giác với y phục sản xuất từ Trung Quốc”.



“Trời vào thu, Việt Nam buồn lắm em ơi”


Đoan Trang - Ngày đầu thu. Nắng vàng vọt. Lòng trống rỗng.

Hai năm trước, vào những ngày này, cũng vậy. Nắng chói chang, mây trời xanh ngăn ngắt, mà tôi chỉ thấy mệt mỏi và trống rỗng tận cùng. Lúc ấy, tôi mới thực hiểu tâm trạng của người viết câu thơ: “Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”. Chưa bao giờ tôi cảm nhận điều ấy rõ như thế: Thành phố quê hương tôi, bây giờ không còn là của tôi nữa.


Cảm nghĩ nhân đọc bài "Hãy đối thoại với người biểu tình"


Tre Xanh (bạn đọc Danlambao) - Nhà cầm quyền Việt Nam chắc đang lo lắng lắm một dư âm của cuộc Cách Mạng Hoa Lài sẽ trở thành cuộc cách mạng hoa sen, hoa hướng dương trên đất nước chúng ta. Các ông bà sợ, và đang cố gắng tìm mọi cách để ngăn chặn, để dập tắt, cho dù nỗi lo sợ đó có căn cứ hay không có căn cứ các ông bà cũng mặc. "Thà giết lầm còn hơn bỏ sót" chẳng phải là chính sách của các ông các bà từ bao nhiêu thế kỷ nay hay sao?...

-



NHỤC QUỐC THỂ - Ôi ! xót xa tủi nhục cho Người con gái Việt Nam !!!

 
 

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

CÂU TRUYỆN CẢM ĐỘNG : " THẰNG KHÙNG "


( Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá )
Phùng Quán ghi theo lời kể của Nguyễn Tuân


Một buổi vào giữa trưa, tôi đang ngồi đun bếp, thì cửa liếp xịch mở. Tôi ngẩng lên, ngồi lặng đi một lúc khá lâu. Tôi bật gọi, cổ nghẹn tắc:
- Trời… Tuân!
Phải, người đang đứng trước mặt tôi là Nguyễn Tuân. Da mặt vàng úa và hơi phù nề. Cặp kính cận vành đồng rỉ xanh và hai gọng được thay bằng hai vòng dây gai xe. Cái miệng vẫn rộng nhưng không còn tươi nữa. Cặp môi nhợt nhạt vì thiếu máu. Như bừng tỉnh, tôi loạng choạng đứng dậy. Và hai chúng tôi ôm chặt lấy nhau lúc nào không biết. Phút chốc hai gương mặt dãi dầu, bầm dập khổ nạn trần gian, đẫm lệ. Tôi thì thầm qua nước mắt:
- Thế mà đã gần mười năm rồi… Mười năm tốt đẹp nhất của một đời người…
Tuân cười buồn:
- Chắc cậu không tin mình còn có ngày trở về?
- ừ…, cậu gầy yếu quá… Người của sách vở, của mộng mơ… Cậu đâu được chuẩn bị để nhận một đòn chí mạng như vậy…
Tuân ngồi xuống cạnh bếp lửa, hơ hơ hai bàn tay gầy guộc, nói:
- Sức thích nghi vô tận cũng là một điều bí ẩn của con người, cậu ạ.
Tôi thổi cơm, rán cá, nấu canh chua. Hai đứa ngồi ăn ngay bên bếp.
- Nghĩ cho cùng, không có cái rủi nào lại không chứa sẵn ít nhiều cái may. – Tuân nói – Có lẽ nhờ vậy mà con người mới có thể tồn tại trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất.
- Cậu thử nói cái may cậu tìm thấy trong mười năm qua xem nào – tôi hỏi.
- Trước hết, mình có dịp suy gẫm thêm về cuốn tiểu thuyết mình định viết, vì đã viết được hai chương đầu như cậu biết. Thực tế mười năm đã chỉ cho mình thấy nội dung cuốn tiểu thuyết của mình quá hiền lành, quá nông cạn. Theo mình, nếu không có mười năm lưu đày ở Sibir, tài năng của Dostoievsky không đạt đến độ viên mãn như vậy. Mình tin, nếu viết lại, cuốn tiểu thuyết của mình sẽ hay hơn, sâu sắc hơn rất nhiều. Nó sẽ là Kỷ niệm ngôi nhà những người chết của mình. Hai nữa, nhờ mười năm qua mình đã tự học được tiếng Nga. Bây giờ mình có thể đọc được Dostoievsky từ nguyên bản. Nhưng điều may mắn này mới là quan trọng hơn cả : trong mười năm qua, mình đã sống giữa những con người vô cùng phong phú và phức tạp, chất liệu sống vàng ròng cho các nhà văn. Mình chỉ đơn cử với cậu một người…
“… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính. Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta.
Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc. Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi “thằng khùng” (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc. Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, “đầu chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau.
Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
- Anh Tuân này – không rõ anh ta biết tên mình lúc nào – sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
- Thèm được đọc sách – mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? – anh ta hỏi.
- Voltaire! – một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong Tội ác và trừng phạt.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
- Tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?

Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: “Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”.
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! – anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
- Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn – ngu ngơ, đần độn như thường ngày. Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… – những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…


* Thằng Khùng trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh (1912-1971) của Nhà thờ lớn Hà Nội.)
** Nguyễn Tuân có bút hiệu là Tuân Nguyễn. Anh vẫn muốn giữ tên mình làm bút hiệu nhưng vì đã có nhà văn Nguyễn Tuân, tác giả “Vang Bóng Một Thời” nên anh đành đổi ngược là Tuân Nguyễn


************************************************

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912 – 1971) Cha chính Hà Nội Tấm gương can trường 
 
Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây. Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges. Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa-Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: Bonjour Madame! Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son. Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie. Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize – Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành. Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu. Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An. Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc. Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh. Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa. Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?”. Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa. Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết. Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội. Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu ‘Ở Dưới Vực Sâu’ nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946. Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác ‘Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít’. Sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: ‘Mở Đường Phúc Thật’, ‘Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi’, ‘Ôi GiaVi’, ‘Lạy Mừng Thánh Tử Đạo’. Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài ‘Bước Tới Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan. Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng. Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: “Tự do thế này à!” Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành. Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!). Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội. Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi: “Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?” Ngài đáp: “Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”. Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là ‘bố’. Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì. Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”. Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử. Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”. Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội. Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.     

TGP Hà Nội
http://anle20.wordpress.com/

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011

” Nhà nước tham ô, giặc ngọai bang đang lăm le xâm chiếm quê hương, bạn nghĩ gì ?. ” ... ” Tôi không biết, tôi chỉ lo kiếm tiền. Việc đó, để người khác lo…” !.

Nền đạo lý Việt Nam dưới thời cộng sản

 
Còn hình ảnh nào dã man hơn khi một cô gái xinh xắn lành lặn bị đám côn đồ giựt dọc ,đạp té xe , vỡ cả khuôn mặt,gãy cả cánh tay chỉ vì sợi dây chuyền vàng 5 phân!.Cô gái nằm sóng sượt trên vũng máu,cái ví sổ ra vài trăm ngàn tung tóe,người đi đường bàng quan vô cảm nhưng không thể nén nỗi lòng tiếc,tranh nhau nhặt từng đồng tiền của nạn nhân để làm của riêng. Nếu ai đó còn chút đọng lòng trách móc sao không đuổi cướp thì sự trả lời là sợ bị bọn băng đảng trả thù.
Công an Trung cộng và tay sai đàn áp dân Việt
Bất luận,bạn là ai: Giàu nghèo sang hèn hay già trẻ gái trai và thuộc tầng lớp nào trong xã hội:Trí thức,Bác sĩ,Kỹ sư,Tiến sĩ,Nông dân,Công nhân,Sinh viên học sinh,Cán bộ,Quốc nội,Hải ngoại...Là người Việt Nam,chúng ta thảy không khỏi không bâng khuâng về hiện tình của Đất Nước.Cho dẫu tầm nhìn được xét qua lăng kính dưới bất cứ góc độ nào thì vấn đề Việt Nam và riêng khía cạnh đạo lý vẫn là một tiêu đề nhức nhối hiện nay. Thực thể của một xã hội là kết quả và trách nhiệm của tất cả các thành viên thuộc xã hội ấy.Trong đó,chính quyền là một tập thể nhỏ có tác động chi phối vận hành cũng như gánh vác trách nhiệm thiết thực nhất.Còn lại đại đa số dân chúng ,hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thể hiện bổn phận của mình như là bổn phận của mỗi một công dân.Sự biểu hiện này,sẽ còn tùy thuộc vào niềm tin và sự nhiệt tình.Chính quyền và người dân là hai thực thể hỗ tương lẫn nhau để tạo nên hình ảnh của một xã hội.Xã hội tốt đẹp lành mạnh hay yếu kém suy đồi tụt hậu là mối liên quan giữa sự hỗ tương đó. Chính quyền Một nhà nước thật sự và đầy tính chính nghĩa,phải là một nhà nước do dân,vì dân và phải được dựng nên bởi dân.Đảng phái chính trị chỉ là những nền tảng lý luận ,tôn chỉ và luận cương nhằm phục vụ cũng như lấy đó làm kim chỉ nam cho nhà cầm quyền thực thi chính sách. Ở Việt Nam,Trung Cộng cùng một số ít quốc gia cộng sản và độc tài khác,hệ thống chính quyền hoàn toàn không thuộc về dân và do dân bầu cử,đó là những cơ chế độc tài toàn trị,đi ngược lại với trào lưu văn minh của nhân loại khi bước vào thế kỷ 21. Loài người là một trong những sản phẩm của Thượng đế tạo ra,càng phát triển tiến bộ thì con người càng chú tâm về nhân quyền và nhân phẩm.Dân chúng Việt Nam là một trong những lớp người đáng tội tình nhất trong cộng đồng thế giới hôm nay bởi lý do họ đã bị nhồi nhét ép bức trong tăm tối mụ mị cùng bạo lực. Một sự thật mà ai ai cũng biết rằng ở Việt Nam không có bầu cử và ứng cử tự do.Giữa thời đại ngày nay,nghịch lý này đã được tồn tại bởi toàn trị cực đoan dưới nhà tù và nòng súng.Sự thật và nghịch lý này còn tồn đọng ngắn hay dài đều tùy thuộc vào ý niệm và hành động của người dân.Thế kỷ này là thế kỷ của truyền thông,chúng ta phải nắm lấy cơ hội của kỹ nghệ thông tin hiện đại biến thành những đoàn quân hùng mạnh trong trận chiến tri thức.Phải bằng mọi cách đưa thông tin đến người dân,tạo cho họ có được nếp suy nghĩ đúng đắn hơn,bớt sợ hãi yếm thế hơn bởi lý do đơn giản là họ phải biết rằng họ phải có cái quyền được sống,được làm người. Ngược dòng lịch sử để quán triệt nguyên nhân của những sự nghịch lý. Là một công dân Việt,không ai mà không biết cái gọi là cuộc đấu tố cải cách ruộng đất , được chuẩn bị từ năm 1953 đến gần hết 1956.Một cuộc đấu tố được coi là " long trời lở đất ",quả bom khổng lồ có sự bộc phá vỡ tan nền đạo lý luân thường khủng khiếp và toàn diện nhất.Con tố cha ,vợ tố chồng,hàng xóm nghi kỵ tố giác lẫn nhau,nó đã tạo ra những sự nghi ngờ thù hận lẫn nhau tàn bạo nhất trong lịch sử xã hội Việt Nam. Sai lầm ấy cùng những sai lầm kế tiếp mà hệ quả của nó gây nên bao điêu tàn chết chóc thù hận gian dối đê hèn kéo dài mãi đến tận ngày hôm nay.Người dân quốc nội lẫn người Việt tha hương,thảy đều ngao ngán cho một một xã hội hiện hành ,nơi có bao oái ăm nhiễu nhương hận thù và bạo ngược.Tầm nhìn với tất cả mọi góc độ vào một xã hội mà không thể tìm thấy bất cứ một sự tích cực hay niềm tin nhỏ nhoi nào.Một hệ thống cầm quyền hoàn toàn vô vọng,một xã hội hoàn toàn đen tối khi bóng ma ngoại bang đã lù lù trùm phủ quê hương. Cuộc chiến huynh đệ tương tàn cho quốc tế cộng sản.Miền Bắc đã gieo bao thảm trạng tai ương cho miền Nam.Đám chư hầu là những hung thủ đã giết chết nền dân chủ và nhân bản hãy còn non nớt của Việt Nam Cộng Hòa.Một lỗi lầm sẽ mãi còn bị dày xéo trong tâm khảm của cả hai miền. Thực trạng hoang mang,niềm tin cạn kiệt thì càng khơi dậy niềm nuối tiếc quá khứ cùng những tham vọng ngô nghê nông nỗi.Thử đặt một câu hỏi mà chính nó đã có sự trả lời.Giá mà ngày xưa,năm 1975,hai miền không thống nhất thì làm sao chúng ta phải đối diện với thảm trạng như ngày hôm nay!.Một xã hội được xem là tận cùng bằng con số không to tướng.Những ảo danh đi làm cách mạng để rồi kết cục là sự đau thương trong nước mắt,tròng nô lệ,không thành công mà cũng chẳng thành nhân và kết cuộc là phải mang tiếng ô danh muôn đời. Người dân Như đã nói trên,sự thành đạt của một quốc gia gồm hai yếu tố cơ bản.Chính quyền mẫn cán tinh tế chính nghĩa và dân chúng có trọn niềm tin,sẵn sàng hy sinh cũng như luôn năng động trong mọi sinh hoạt.Với môi trường và khung cảnh trong bàn tay sắc máu bạo lực,sẵn sàng đàn áp hoang phí tất cả vì quyền lợi riêng tư cho cá nhân cùng băng đảng ,người dân là những nô lệ đáng thương.Doanh nghiệp luôn bị chèn ép nhũng nhiễu,công nhân luôn bị áp bức bóc lột tận xương tủy,nông dân lê kiếp nhọc nhằn để còn được sống một giá trị sống thấp kém nhất.Sinh viên học sinh phải chịu khốn đốn trong nghèo khó,tiêu hao chất xám từ nền giáo dục cưỡng bức nhồi sọ,khi ra trường thì lại bị phe phái già nua tham quyền cố vị hãm tài.Bệnh tật,cướp bóc,đĩ điếm tràn lan.Thực phẩm tẩm chất độc từ kẻ thù bá quyền phương Bắc với mưu đồ giết hại dần mòn một cách tinh vi... Một xã tốt đẹp và phát triển là một xã hội ắt có và đủ hai thực thể hổ tương lẫn nhau.Trong khi thực tế ở Việt Nam thì sự hổ tương ấy dường như là đối nghịch.Sở dĩ người dân còn đáp ứng với nhà nước là bởi sự sợ hãi,muốn yên thân trong trạng thái nín thở qua sông.Sự hợp tác trong tinh tinh thần tự nguyện bởi bổn phận của một người công dân là hoàn toàn miễn cưỡng.Kéo dài một xã hội như vậy là mê muội và hoang phí.Từ đó,do nhu cầu của sự phát triển,bảo đảm dân sinh,an toàn cho nền độc lập của Tổ Quốc...Ắt phải thay thế một cơ chế chính quyền mà đa đảng đa nguyên là chuẩn đề định hướng cho một con đường tương lai.Một con đường mà ai cũng có quyền ngẩn mặt ,có sự cạnh tranh chỉnh đốn,không độc đảng toàn trị,Một thể chế có đầy nhân bản vị tha niền tin và đạo lý. Qua bức tranh lõa lồ của thực thể Việt Nam,bắt buộc chúng ta phải tự can đảm để vươn vai thoát khỏi bế tắc nếu Việt tộc còn muốn dân và đất Việt vẫn còn trên bản đồ thế giới.Chúng ta phải lấy những hình ảnh nào để noi theo?. Một cách cụ thể,gần đây nhất qua vụ thiên tai siêu Động đất và sóng thần Tōhoku 2011,chúng ta và kể cả thế giới đã học hỏi được gì ở người Nhật ?.Trong những điều kiện khủng khiếp kinh hãi nhất,họ vẫn bình tâm và lấy chữ trọng làm đầu ,chia sẻ nhường nhịn,không chen lấn giựt dọc ấu đã để giành lấy sự sống .Một dân tộc đầy ý thức,kỷ luật và lòng tự trọng,họ thà đói chết chớ quyết không đánh mất chữ trọng ấy. Xa hơn nữa,hãy nhìn vào lịch sử,lòng ái quốc và niềm tự hào của người Do Thái để trân quí những thành quả mà tiền nhân tổ tiên của chúng ta đã dầy công với xương thành núi,máu thành sông,với bao linh hồn tử sĩ mới tạo dựng được cho Việt tộc đến ngày hôm nay.Dòng lịch sử 4.000 năm trải bao nhọc nhằn cơ cực lẫn ý chí mới giữ được Nước để truyền lại cho thế hệ chúng ta, thế thì không vì bất cứ lý do gì khiến chúng ta phải cúi nhục vô cảm thờ ơ trước thái độ ích kỷ nhu nhược vì quyền lợi riêng tư cho cá nhân và băng nhóm để qui hàng,nguyện làm Thái thú thần phục ngoại bang Bắc triều. Đảng cộng sản VN vô trách nhiệm trước tiền đồ Tổ Quốc,vô thần,vô đạo nghĩa và hệ trọng hơn là đầu độc,lừa mị kéo theo cả một tập thể dân tộc theo con đường tội lỗi tày trời này. Ngạn ngữ Việt Nam có nói:" Bần cùng sinh đạo tặc ".Trong hoàn cảnh ngặt nghèo khó khăn nhất định,con người ta có thể quẫn trí mà làm liều,điều này,ở mức độ nào đó,có thể cảm thông được.Nhưng rất đáng trách và hơn nữa là thật đáng khinh bỉ khi một người hoặc một nhóm người đã có dư thừa uy quyền tiền bạc nhà lầu biệt thự xe sang vợ bảnh con du học...mà vẫn còn muốn gom cả giang sơn về mình thì chẳng những đáng khi miệt mà còn là một trọng tội. Nếu quả như đảng cộng sản đã thực thi cho những gì mà họ đã dầy công quảng bá cho nền độc lập,sự ấm no,niềm hạnh phúc,xã hội công bằng phát triển và văn minh thật sự thì không ai điên khùng hẹp hòi gì mà phê phán hoặc chống đối.Sự thật thì hoàn toàn ngược lại.Người cộng sản đã lì lơm trơ trẽn một cách kiên trì để rêu rao lừa mị dân chúng với những chiếc bánh vẽ đầy chất độc.Họ không vì Đất Nước,không vì Tổ Quốc Nhân Dân chi cả mà thực tế dinh thự đồ sộ của đảng ủy,của nhà nước,biệt thự xe hơi nhà lầu khách sạn công ty đất đai tài sản tiền vàng châu báu,gởi nước trong nước ngoài đầy ắp .Ở Việt Nam,thằng quan nào,con đảng nào mà chẳng giàu sụ ,gởi cả con cháu ra ngoại quốc.Thế !.Không là ích kỷ,không là tham lam,không là vô lương bất chánh,vô đạo đức thì là gì ?. Một lũ cầm quyền mà từ trung ương đến địa phương,từ Tổng bí thơ Thủ tướng đến lãnh đạo các quận huyện,thậm chí thị trấn xã,các ngành các cấp,có ai dám chứng minh cho mọi người biết là các cấp kể trên không tham nhũng ?.Đó là sự thật,một thật trần truồng mà không ai có thể biện minh bằng bất cứ thứ từ ngữ nào. Một chính phủ không có đạo đức,không còn lòng tự trọng cho bản thân gia tộc và quốc thể là một chính phủ xấu xa thấp kém đáng phải vứt đi.Dứt khoát. Sự hệ lụy nhục nhã từ những người cầm nắm vận mệnh Đất Nước đưa đến hình ảnh man rợ tiêu cực trong xã hội mà báo đài cũng như nhiều người mục kích. Còn hình ảnh nào dã man hơn khi một cô gái xinh xắn lành lặn bị đám côn đồ giựt dọc ,đạp té xe , vỡ cả khuôn mặt,gãy cả cánh tay chỉ vì sợi dây chuyền vàng 5 phân!.Cô gái nằm sóng sượt trên vũng máu,cái ví sổ ra vài trăm ngàn tung tóe,người đi đường bàng quan vô cảm nhưng không thể nén nỗi lòng tiếc,tranh nhau nhặt từng đồng tiền của nạn nhân để làm của riêng. Nếu ai đó còn chút đọng lòng trách móc sao không đuổi cướp thì sự trả lời là sợ bị bọn băng đảng trả thù. Ảnh minh họa Đất nước nào cũng vậy,thanh niên là rường cột của quốc gia.Ở Việt Nam phần đông những rường cột này khi được hỏi ý kiến " Nhà nước tham ô,giặc ngọai bang đang lăm le xâm chiếm quê hương,bạn nghĩ gì ?. " : " Tôi không biết,tôi chỉ lo kiếm tiền.Việc đó,để người khác lo..." !. Xã hội Việt Nam ngày hôm nay,hỏi mấy ai có được sự bình yên thật sự?.Có ai là không từng bị lừa đảo giựt dọc,kể cả " Việt kiều " ?.Một xã hội mà sự ngao ngán đã lên đến tột độ và toàn diện. Dưới chế độ cộng sản, sợ hãi đã trở thành một tập tục!.Sự sợ hãi ấy đã vượt xa tình cảm,đạo lý và lòng nhân ái tối thiểu của một con người.Liệu rằng,chúng ta có sợ hãi quá xa mức cần thiết ấy không ?. Khi một xã hội không coi trọng đạo lý,mà trong đó nhà cầm quyền là một tập thể chủ chốt cốt cán không còn đạo đức thì viễn ảnh của quần thể ấy sẽ đi về đâu ?.Bên bờ vực của hố thẳm vong nô,mọi cá nhân phải tự vượt qua u ám mê muội,hãy sớm thức tỉnh trước khi quá muộn,không thể chần chờ chi thêm nữa.


Nguyên Thạch
Tháng Tám-2011 

21.08: TƯỜNG THUẬT TRỰC TIẾP TỪ THỦ ĐÔ HÀ NỘI


Hà Nội: Tường thuật trực tiếp cuộc biểu tình lần thứ 11, sáng CN 21-08-2011 (Updated 8:30')

Tường thuật tại Hà Nội, sáng Chủ Nhật, 21-08-2011

Sài Gòn: Tường thuật trực tiếp cuộc biểu tình lần thứ 11, sáng CN 21-08-2011 (Updated 7:30)

Giàu nghèo cách biệt

Giấc mơ thiên đàng Xã hội chủ nghĩa là dân giàu nước mạnh, tự do dân chủ, công bằng, bình đẳng, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, ấy thế mà mãi cho đến ngày hôm nay mục tiêu ấy vẫn còn xa vời và chắc hẳn không bao giờ trở thành hiện thực vì sự thoái hóa của những người cộng sản biến chất. Continue reading →

Quyền lực – quyền lợi – danh nghĩa ”Trí Thức”

Điểm qua tình hình đất nước VN với những diễn biến trên 10 cuộc biểu tình chống Trung Cộng về xâm phạm chủ quyền lãnh hải Trường Sa – Hoàng Sa của VN . Hà Nội vẫn tiếp tục và đặc biệt có một tuần nghỉ để xả hơi cho cả hai giữa lực lượng biểu tình lẫn CA cảnh sát ? – Continue reading  

Why do chinese act like animals ?

 
Amateur footage of the fight posted to Chinese video sites Thursday night was taken down Friday (though copies still remain available 
Thầy và trò giống nhau, toàn là lũ súc vật ...



Nguyễn Hữu Vinh - “Có chỉ thị của UBNDTP Hà Nội cấm biểu tình chống Trung Quốc khu vực Hồ Hoàn Kiếm…Chúng tôi cũng bức xúc vì chuyện biên giới, hải đảo, nhưng mỗi người có một cách hành động khác nhau, chúng tôi chỉ vận động anh không đi biểu tình vì có chỉ thị cấm biểu tình, còn nghe hay không là việc của anh. Còn việc làm của anh là đúng thực chất của vấn đề”. – Tô Viêm, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Phường Giáp Bát.